Kết quả xử lý chỉ được coi là đã xác nhận khi có phép đo bằng thiết bị trước và sau khi xử lý. Các phép đo được thực hiện bằng cùng một thiết bị đo, ở cùng một chế độ tải, có thời gian vận hành giữa hai lần đo; cả hai giá trị được ghi vào biên bản.
Danh sách thông số cần kiểm soát được nhóm theo loại cụm chi tiết: với mỗi thông số có nêu đơn vị đo, phương tiện đo và điều kiện đo. Mẫu biên bản xác định cấu trúc biên bản, mẫu đã điền thể hiện nội dung của từng ô.
Khuyến nghị khi tổ chức đo:trước khi đưa chế phẩm vào, cần đo giá trị ban đầu của các thông số của cụm chi tiết cần xử lý và ghi lại thiết bị đo, chế độ và thời gian vận hành.
Cùng thiết bị đo, cùng chế độ, cùng điểm đo. Phép đo “trước” và phép đo “sau” được thực hiện bằng cùng một thiết bị đo, ở cùng chế độ tải và tại cùng các điểm đo: nếu không, chênh lệch phản ánh sự khác biệt về điều kiện chứ không phải kết quả xử lý.
Thời gian vận hành giữa các phép đo. Phép đo “sau” được thực hiện khi kết thúc toàn bộ chu kỳ xử lý do quy trình cho cụm máy quy định: từ 30 đến 700 giờ vận hành, hoặc từ 1.500 đến 4.000 km chạy nếu quy trình quy định theo quãng đường chạy. Thời hạn theo từng nhóm cụm máy được nêu trong bảng thời hạn xử lý thí điểm.
Cụm máy thứ hai cùng loại không được xử lý. Phần lớn các trường hợp ứng dụng trong danh mục không có cụm máy đối chứng: máy đã xử lý được so sánh với chính nó, trước và sau khi xử lý.
Diễn giải kết quả đo áp suất nén
Các xi lanh của cùng một động cơ có mức độ mài mòn khác nhau — áp suất nén của chúng cũng khác nhau, vì vậy áp suất nén được đo riêng cho từng xi lanh. Cần xem xét không chỉ giá trị trung bình mà cả chênh lệch giữa các xi lanh.
Cần thực hiện phép đo đầu tiên trên động cơ đã tẩy muội than. Chỉ khi đó phép đo mới phản ánh tình trạng thực, chứ không phải áp suất nén được nâng lên nhờ muội than: nếu không, mức tăng sẽ bị đánh giá thấp.
Trình tự chuẩn bị:
tẩy muội than các xi lanh — XADO RED ANTICARBON;
khi đến kỳ thay dầu theo kế hoạch — súc rửa hệ thống dầu bằng XADO RED FLUSH và thay dầu;
Mẫu biên bản bao gồm các ô thường bị bỏ trống nhất trong các biên bản thử nghiệm của danh mục. Mẫu đã điền thể hiện nội dung của từng ô; doanh nghiệp trong mẫu là giả định.
Chế độ đưa chế phẩm vào và chế độ vận hành trong thời gian xử lý được nêu tại trang Cam kết và giới hạn. Quy trình xử lý chung, từ chuẩn bị hệ thống đến các phép đo “sau”, được nêu tại mục Quy trình xử lý thí điểm.
Định mức sử dụng, số giai đoạn và khoảng thời gian giữa các giai đoạn do quy trình cho cụm máy quy định: lượng chế phẩm được tính theo thể tích dầu hoặc chất lỏng công tác, hoặc theo bảng định mức sử dụng. Toàn bộ tài liệu được công bố đầy đủ: quy trình cho cụm máy tương ứng — chế phẩm cần cho vào và số giai đoạn, bảng định mức sử dụng — lượng gel theo từng cụm máy. Bản hướng dẫn in được gửi kèm chế phẩm; nếu phiên bản của bản in khác với nội dung trên trang, bản in được coi là đúng.